Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ hai, ngày 22/10/2018

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Lê Đình Quyết - Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Ninh
ldquyet.stttt@bacninh.gov.vn

 Kính gửi Bộ Thông tin và Truyền thông

Căn cứ Nghị định số 72/2012/NĐ-CP ngày 24/09/2012 của Chính phủ về quản lý và sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật;
Căn cứ Thông tư liên tịch 210/2013/TTLT-BTC-BXD-BTTTT ngày 30/12/2013 của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông Hướng dẫn cơ chế, nguyên tắc kiểm soát giá và phương pháp xác định giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung;
Thực hiện Công văn số 2092/UBND-XDCB ngày 13/6/2018 của UBND tỉnh, về việc xây dựng bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Sở Thông tin và Truyền thông đang chủ trì, phối hợp với đơn vị tư vấn xây dựng dự thảo bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, với các nội dung chính sau:
1. Mục đích, ý nghĩa:
Bộ đơn giá này sau khi được công bố sẽ là căn cứ pháp lý, là khung tham chiếu, là cơ sở để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham khảo, áp dụng để xác định đơn giá thuê dùng chung hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động (đầu tư ngoài nguồn ngân sách nhà nước) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
2. Phạm vi áp dụng
- Áp dụng giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động trên địa bàn tỉnh.
3. Đối tượng áp dụng
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động.
- Các tổ chức, cá nhân sở hữu các công trình hạ tầng khác có liên quan đến viễn thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
4. Nguyên tắc xác định đơn giá
- Nguyên tắc xác định đơn giá: Bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông tỉnh Bắc Ninh được xây dựng trên nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí đầu tư xây dựng; chi phí quản lý, vận hành; chi phí bảo trì, bảo dưỡng; chi phí khác theo quy định của pháp luật; gắn với chất lượng dịch vụ; phù hợp với các chế độ chính sách, các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
- Giá cho thuê phù hợp tình hình giá cả thị trường trên địa bàn tỉnh và khả năng đầu tư của doanh nghiệp.
5. Thành phần bộ đơn giá
Bộ đơn giá gồm có:
- Đơn giá cho thuê cột treo cáp và cáp treo.
- Đơn giá cho thuê công trình ngầm để kéo cáp thông tin.
- Đơn giá cho thuê cáp thông tin ngầm.
- Đơn giá cho thuê cột ăng ten.
- Đơn giá cho thuê nhà trạm lắp đặt thiết bị viễn thông.
- Đơn giá chỉnh trang, bó gọn mạng cáp treo.
6. Phương pháp xác định giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động
Giá cho thuê được xác định theo phương pháp chi phí căn cứ theo Thông tư 210/2013/TTLT-BTC-BXD-BTTTT của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông Hướng dẫn cơ chế, nguyên tắc kiểm soát giá và phương pháp xác định giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung. Các khoản chi phí đầu tư dự án được xác định theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng.
7. Khó khăn, vướng mắc khi xây dựng bộ đơn giá:
              a. Thẩm quyền ban hành bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng ngân sách Nhà nước:
- Tại điểm b) Khoản 3 Điều 18 Nghị định 72/2012/NĐ-CP quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này và phương pháp xác định giá thuê theo hướng dẫn của liên Bộ Xây dựng, Tài chính để quyết định giá cho thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước áp dụng thống nhất trên địa bàn.
Tuy nhiên tại điểm a) Khoản 2 Điều 12 Thông tư 210/2013/TTLT-BTC-BXD-BTTTT quy định: Tổng chi phí đầu tư xây dựng công trình: là toàn bộ chi phí hợp lý, hợp pháp thực hiện đầu tư xây dựng công trình và đưa công trình vào khai thác sử dụng theo quy định hiện hành về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư tại thời điểm bàn giao đưa vào khai thác sử dụng.
         Như vậy không thể xây dựng bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động (đầu tư bằng ngân sách Nhà nước) để áp dụng nhiều lần cho nhiều công trình trong một khoảng thời gian nhất định, mà chỉ có thể xác định đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động cho từng công trình khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư tại thời điểm bàn giao đưa vào khai thác sử dụng.
                   b. Thẩm quyền công bố bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng nguồn ngoài ngân sách Nhà nước:
         Tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư 210/2013/TTLT-BTC-BXD-BTTTT quy định: Tổ chức, cá nhân căn cứ quy định tại Điều 3 và phương pháp xác định giá thuê tại Thông tư liên tịch này để định giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung do mình đầu tư (ngoài nguồn ngân sách nhà nước) và thỏa thuận với tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng; đồng thời thực hiện đăng ký giá thuê với cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 Thông tư liên tịch này theo hình thức thông báo đăng ký giá thuê. Trường hợp các bên không thỏa thuận được giá thuê, cơ quan có thẩm quyền tổ chức hiệp thương giá theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này.
         Kính đề nghị Quý Bộ cho biết thẩm quyền của địa phương trong việc ban hành hoặc công bố hai bộ đơn giá sau:
         - Bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
         - Bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng nguồn ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
         Rất mong Quý Bộ quan tâm, sớm cho ý kiến để Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Ninh biết, tham mưu giúp UBND tỉnh ban hành hoặc công bố bộ đơn giá làm căn cứ pháp lý, khung tham chiếu, cơ sở để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh tham khảo, áp dụng.
Trân trọng cảm ơn!
- 4 ngày trước
Trả lời:

Sau khi nghiên cứu, Cục Viễn thông, Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:

1. Trường hợp 1: Bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
 
Trả lời: Thẩm quyền của địa phương trong việc ban hành Bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng ngân sách Nhà nước đã được quy định tại ĐIểm B Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 72/2012/NĐ-CP:
 
"Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này và phương pháp xác định giá thuê theo hướng dẫn của liên Bộ Xây dựng, Tài chính để quyết định giá cho thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước áp dụng thống nhất trên địa bàn;"
 
Như vậy, UBND tỉnh Bắc Ninh quyết định giá cho thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước áp dụng thống nhất trên địa bàn.
 
2. Trường hợp 2: Bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng nguồn ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
 
Trả lời: Thẩm quyền trong việc ban hành Bộ đơn giá cho thuê sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đầu tư bằng nguồn ngoài ngân sách Nhà nước đã được quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch 210/2013/TTLT-BTC-BXD-BTTTT ngày 30/12/2013:
 
"Tổ chức, cá nhân căn cứ quy định tại Điều 3 và phương pháp xác định giá thuê tại Thông tư liên tịch này để định giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung do mình đầu tư (ngoài nguồn ngân sách nhà nước) và thỏa thuận với tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng; đồng thời thực hiện đăng ký giá thuê với cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 Thông tư liên tịch này theo hình thức thông báo đăng ký giá thuê. Trường hợp các bên không thỏa thuận được giá thuê, cơ quan có thẩm quyền tổ chức hiệp thương giá theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch này"​.
 
Như vậy,tổ chức cá nhân định giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung do mình đầu tư (ngoài nguồn ngân sách nhà nước) và thỏa thuận với tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng; đồng thời thực hiện thông báo đăng ký giá thuê với Sở Tài chính Bắc Ninh.
Độc giả: Trương Trọng Khoa - Yên Lập, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
khoahoa2009@gmail.com

Tôi có người nhà dùng mạng di động Viettel loại 11 số. Tôi muốn hỏi về quy định chuyển đổi đầu số điện thoại, cụ thể là chuyển đầu số từ 11 số về 10 số thì số thêu bao phải tự đi chuyển hay nhà mạng tự chuyển đổi theo các đầu số theo quy định. Xin chân thành cảm ơn

- 1 tháng trước
Trả lời:
Ghi nhận ý kiến của bạn đọc, Cục Viễn thông, Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:
 
Ngày 25/5/2018, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Kế hoạch chuyển đổi mã mạng kèm theo Quyết định số 798/QĐ-BTTTT, theo đó bắt đầu từ 00 giờ 00 phút ngày 15/9/2018 sẽ chuyển đổi thuê bao 11 số sang 10 số. Các doanh nghiệp viễn thông di động sẽ thực hiện chuyển đổi thuê bao 11 số sang 10 theo đúng kế hoạch chuyển đổi mã mạng đã được công bố.
 
Để cập nhật kết quả chuyển đổi mã mạng của các doanh nghiệp viễn thông, Quý bạn đọc có thể truy cập theo địa chỉ sau:
Độc giả: Lê Kim Cương - Số 232-234 Phạm Văn Đồng - Cổ Nhuế 1 - Bắc Từ Liêm - Hà Nội
lkcuong237@gmail.com

Tôi xin hỏi Bộ Thông tin và Truyền thông một số câu hỏi sau:

1. Hiện nay toà nhà tôi đang sinh sống (Khu dự án An Bình City, số 232-234 Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội) chỉ có 1 doanh nghiệp là VNPT cung cấp dịch vụ viễn thông, như vậy đúng hay sai? Vai trò của Bộ chủ quản trong việc này như thế nào? Nếu sai, Bộ sẽ làm gì?

2. Hiện nay, tại một số toà nhà trong dự án nêu trên có hiện tượng mỗi doanh nghiệp cung cấp cho một vài toà nhà. Trong đó, doanh nghiệp VNPT cung cấp dịch vụ cho một số toà, và khi khách hàng tại các toà nhà đó có nhu cầu sử dụng dịch vụ thì (VNPT) chỉ ký hợp đồng khi khách hàng sử dụng gói dịch vụ có dung lượng 30Mb trở lên. Hỏi, như vậy có phải VNPT đã áp đặt khách hàng sử dụng dịch vụ của mình hay không? Doanh nghiệp làm vậy có vi phạm quy định của pháp luật hay không? Với vai trò của Bộ thì Bộ sẽ làm gì với những trường hợp nêu trên?

 

- 1 tháng trước
Trả lời:
Ghi nhận ý kiến của bạn đọc, Cục Viễn thông, Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:
 
1. Hiện nay toà nhà tôi đang sinh sống (Khu dự án An Bình City, số 232-234 Phạm Văn Đồng, phưởng Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội) chỉ có 1 doanh nghiệp là VNPT cung cấp dịch vụ viễn thông, như vậy đúng hay sai? Vai trò của Bộ chủ quản trong việc này như thế nào? Nếu sai, Bộ sẽ làm gì?
 
Trả lời:
 
Khoản 1 Điều 42 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông quy định: “Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng tòa nhà có nhiều chủ sử dụng (chung cư, tòa nhà văn phòng, khách sạn) có trách nhiệm thiết kế, lắp đặt hệ thống cáp viễn thông, điểm truy nhập trong tòa nhà. Giá thuê sử dụng mạng cáp trong tòa nhà được xác định trên cơ sở giá thành”
 
Khoản 4 Điều 42 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 quy định “Việc sử dụng công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động phải đảm bảo nguyên tắc người sử dụng dịch vụ được tự do lựa chọn doanh nghiệp viễn thông, thúc đẩy cạnh tranh trong thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông trong các tòa nhà, công trình xây dựng công cộng, công trình giao thông, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu đô thị”.
 
Theo đó, chủ đầu tư các tòa nhà sẽ có trách nhiệm thiết lập các hệ thống cáp viễn thông, điểm truy nhập và đàm phán với các doanh nghiệp viễn thông để bảo đảm việc cung cấp dịch vụ viễn thông một cách tốt nhất đến các cư dân. Do vậy, trong trường hợp tòa nhà, nới Quý bạn đọc đang sinh sống, mới chỉ có một doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ và người dân không hài lòng với chất lượng cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp này, các cư dân của tòa nhà có thể yêu cầu Chủ đầu tư/Ban Quản lý tòa nhà tiến hành tìm kiếm, đàm phán để các doanh nghiệp viễn thông khác vào cùng cung cấp dịch vụ viễn thông, đảm bảo quyền lợi của cư dân trong tòa nhà.
 
2. Hiện nay, tại một số toà nhà trong dự án nêu trên có hiện tượng mỗi doanh nghiệp cung cấp cho một vài toà nhà. Trong đó, Doanh nghiệp VNPT cung cấp dịch vụ cho một số toà, và khi khách hàng tại các toà nhà đó có nhu cầu sử dụng dịch vụ thì (VNPT) chỉ ký hợp đồng khi khách hàng sử dụng gói dịch vụ có dung lượng 30Mb trở lên. Hỏi, như vậy có phải VNPT đã áp đặt khách hàng sử dụng dịch vụ của mình hay không? Doanh nghiệp làm vậy có vi phạm quy định của pháp luật hay không? Với vai trò của Bộ thì Bộ sẽ làm gì với những trường hợp nêu trên?
 
Trả lời:
 
Khoản 1 Điều 16 Luật Viễn thông quy định “Người sử dụng dịch vụ viễn thông có quyền lựa chọn doanh nghiệp viễn thông, đại lý dịch vụ viễn thông để giao kết hợp đồng sử dụng dịch vụ viễn thông”.
 
Khoản 3 Điều 8 Luật Bảo về quyền lợi người tiêu dùng quy định: “khách hàng được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”.
 
Theo đó, khách hàng có quyền lựa chọn doanh nghiệp viễn thông, đại lý viễn thông, quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch để lựa chọn dịch vụ theo yêu cầu, điều kiện thực tế của mình.
 
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 42 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông quy định: “Việc sử dụng công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động phải đảm bảo nguyên tắc người sử dụng dịch vụ được tự do lựa chọn doanh nghiệp viễn thông, thúc đẩy cạnh tranh trong thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông trong các tòa nhà, công trình xây dựng công cộng, công trình giao thông, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu đô thị”.
 
Do vậy, trường hợp chỉ có một doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ và người dân không hài lòng với doanh nghiệp viễn thông chỉ cung cấp gói dịch vụ có dung lượng 30Mb trở lên, các cư dân của tòa nhà có thể yêu cầu Chủ đầu tư/Ban Quản lý tòa nhà tiến hành tìm kiếm, đàm phán để các doanh nghiệp viễn thông khác vào cùng cung cấp dịch vụ viễn thông, đảm bảo quyền lợi của cư dân trong tòa nhà.
Độc giả: Đỗ Thị Mai Trang - H158/2A Hoàng Hoa Thám- P12-Q. Tân Bình-TP.HCM
trangdtm@viettelpost.com.vn

Tổng Công ty tôi triển khai hệ thống cập nhật dữ liệu khách hàng gửi, khách hàng nhận trên app, website. Mỗi khách hàng sẽ có 1 tài khoản riêng và khi có nhu cầu vận chuyển khách hàng chỉ cần tạo đơn hàng trên hệ thống Viettelpost. Bưu cục gốc in phiếu ra và dán vào bưu gửi của khách cho đi; Bưu cục giao cập nhật khách hàng nhận trên app. Vậy cho tôi hỏi:

1. Vụ Bưu chính có văn bản nào hướng dẫn về việc lưu phiếu gửi liên 1 và 2 tại Bưu cục gốc và bưu cục giao đối với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ trong lĩnh vực chuyển phát như thế này không?

2. Nếu được phép lưu dữ dữ liệu trên hệ thống phần mềm thì thời hạn lưu giữ có thay đổi không?

Tôi xin cám ơn!

 

- 1 tháng trước
Trả lời:

Sau khi nghiên cứu, Vụ Bưu chính - Bộ Thông tin và Truyền thông có ý kiến như sau:

1. Hiện nay, pháp luật về bưu chính không quy định về việc lưu trữ đơn hàng/phiếu gửi bản giấy hoặc lưu trữ trên phương tiện điện tử.

2. Căn cứ tính chất loại văn bản, tài liệu, doanh nghiệp có thể áp dụng pháp luật liên quan, cụ thể:
 
- Trường hợp xác định đơn hàng/phiếu gửi của doanh nghiệp là một loại chứng từ kế toán thì việc lưu trữ được quy định tại Luật kế toán 2015 và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật kế toán (định nghĩa chứng từ kế toán tại khoản 3 Điều 3 Luật kế toán; thời hạn lưu trữ tại Điều 41 Luật kế toán 2015). 
 
- Trường hợp xác định đơn hàng/phiếu gửi của doanh nghiệp là một loại hợp đồng hay là một phần của hợp đồng thì việc lưu trữ được quy định tại Luật kế toán 2015 và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP (quy định lưu trữ hợp đồng và thời hạn lưu trữ hợp đồng tại Điều 8, Điều 10, Điều 12 và Điều 13 Nghị định 174/2016/NĐ-CP).
 
- Ngoài các quy định trên, việc lưu trữ trên phương tiện điện tử đối với chứng từ kế toán và hợp đồng cũng được quy định tại Điều 10 Nghị định 174/2016/NĐ-CP.
 
Để biết thêm các thông tin chi tiết, doanh nghiệp có thể nghiên cứu các quy định khác của Luật kế toán 2015 và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP.
Độc giả: Nguyễn Ngọc Dũng - Khối phố 2 Phường An Xuân, TP. Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam
dungnguyenngoc75@gmail.com

Tôi có sử dụng dịch vụ D5 của mạng MobiFone với giá 5.000 đồng/ ngày, thời gian sử dụng từ 2-3 ngày. Nhưng nhà mạng MobiFone tính tiền dịch vụ lên đến 1.000.000 đồng, tôi không rõ nhà mạng tính tiền theo hình thức nào mà giá dịch vụ cao đến thế. Tôi rất bức xúc kiểu tính tiền này, kính mong nhà quản lý xem xét giúp tôi. Kiểu tính tiền như trên có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng không?

Trân trọng cảm ơn !  

- 1 tháng trước
Trả lời:
Ghi nhận ý kiến của bạn đọc, Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông có ý kiến trả lời như sau:
 
Gói cước D5 của doanh nghiệp MobiFone thực hiện thông báo giá cước với Cục Viễn thông theo quy định. Giá cước cụ thể như sau: Gói cước D5 có giá cước là 5.000 đồng/24h/1 GB, dùng hết 1 GB thì sẽ tính cước ngoài gói là 75 đồng/50 kB.
 
Trường hợp hóa đơn cước lên đến 1.000.000 đồng có thể khách hàng đã sử dụng hết 1GB của gói và sử dụng thêm dung lượng ngoài gói​. Để có thông tin đầy đủ và chính xác, khách hàng có thể đề nghị MobiFone cung cấp chi tiết dung lượng data khách hàng đã dùng và thời gian sử dụng để có thể kiểm tra được tiền cước chính xác, cụ thể.​
 
Độc giả: Nguyễn Sơn Tùng - Tân Bình, TP. HCM
tungtlt55@gmail.com

Kính gửi Bộ Thông tin và Truyền thông. Sau khi nghiên cứu Nghị định 102/2009/NĐ-CP và Nghị định 136/2015/NĐ-CP, tôi có một số câu hỏi sau:

1. Dự án ứng dụng công nghệ thông tin chỉ thực hiện theo Nghị định 136 mà không áp dụng Nghị định 102 có được không?

2. Sau khi tìm hiểu Luật công nghệ thông tin, Nghị định 102 nhưng tôi vẫn chưa hiểu rõ mua những thiết bị nào thì thuộc dự án ứng dụng công nghệ thông tin, ví dụ khi mua sắm thiết bị sản xuất chương trình truyền hình gồm: camera xách tay; camera cố định cho phim trường; bộ dựng hình video có máy tính trạm, phần mềm cài đặt sẵn theo máy và có thể kết nối vào mạng dựng hình gồm nhiều máy; bộ chuyển mạch; bàn trộn tiếng. Trong đó tỷ lệ phần bộ dựng hình rất nhỏ, như vậy dự án mua sắm những thiết bị này có thuộc dự án ứng dụng công nghệ thông tin không.

Trân trọng cảm ơn, rất mong nhận được ý kiến trả lời của quý Cơ quan.

- 1 tháng trước
Trả lời:

Ghi nhận ý kiến của bạn đọc, Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông có ý kiến trả lời như sau:

1. Ngày 18/6/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư công, theo đó các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư công. Trước khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư công, các dự án ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 6/11/2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
 
Sau khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư công, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 136/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công, Nghị định này hướng dẫn chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực (trừ xây dựng công trình), phạm vi điều chỉnh không có nội dung loại trừ dự án ứng dụng CNTT nên có một số quy định bị trùng lặp, chồng chéo với quy định tại Nghị định số102/2009/NĐ-CP. Tại Điều 69 Nghị định 136/2015/NĐ-CP đã quy định các quy định trước đây trái với quy định tại Nghị định này đều bãi bỏ.
 
Đồng thời, theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau” thì các quy định bị trùng lặp giữa 02 Nghị định nêu trên phải áp dụng theo quy định tại Nghị định số 136/2015/NĐ-CP.
 
Như vậy, dự án ứng dụng CNTT hiện nay thực hiện theo quy định của Nghị định 136/2015/NĐ-CP, đối với các quy định trong Nghị định 102/2009/NĐ-CP, nếu không trùng lặp hoặc trái với Nghị định 136/2015/NĐ-CP thì chủ đầu tư và người có thẩm quyền xem xét vận dụng thực hiện.
 
2. Tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 102/2009/NĐ-CP quy định dự án ứng dụng CNTT là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để thiết lập mới, mở rộng hoặc nâng cấp cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phần mềm và cơ sở dữ liệu nhằm đạt được sự cải thiện về tốc độ, hiệu quả vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ trong ít nhất một chu kỳ phát triển của công nghệ thông tin.
 
Theo quy định này, đối tượng của dự án ứng dụng CNTT bao gồm: (1) hạ tầng kỹ thuật; (2) phần mềm; (3) cơ sở dữ liệu. Trong đó:
 
(1) Hạ tầng kỹ thuật: theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hạ tầng kỹ thuật là tập hợp thiết bị tính toán (máy chủ, máy trạm), thiết bị ngoại vi, thiết bị kết nối mạng, thiết bị phụ trợ, mạng nội bộ, mạng diện rộng.
 
(2) Phần mềm: theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định.
 
(3) Cơ sở dữ liệu: theo quy định của Nghị định 64/2007/NĐ-CP, cơ sở dữ liệu trong cơ quan nhà nước là tập hợp thông tin được xây dựng, cập nhật và duy trì đáp ứng yêu cầu truy nhập và sử dụng thông tin của các ngành kinh tế, của các bộ, ngành, địa phương và phục vụ lợi ích xã hội.
 
Như vậy, bạn đọc cần căn cứ vào đối tượng của dự án mua sắm những thiết bị sản xuất chương trình truyền hình trong thực tế để xác định tính chất, phân loại dự án, hạng mục của dự án…; nếu đối tượng của dự án/hạng mục của dự án thuộc các đối tượng (1), (2), (3) nêu trên thì là dự án/hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin.